Ngày 23/4/2026, Quốc hội
khóa XVI đã thông qua Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 (Luật số 01/2026/QH16)
với tỷ lệ tán thành đạt 98,4%. Luật gồm 04 chương, 31 điều và có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/9/2026.
Quyền
tiếp cận thông tin là một trong những quyền con người, quyền công dân cơ bản,
được ghi nhận tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013. Quyền này không chỉ bảo đảm quyền
được biết của công dân mà còn là cơ sở quan trọng để công dân thực hiện quyền
tham gia quản lý nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước,bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Sau gần
10 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã góp phần thúc đẩy công
khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn cho
thấy vẫn còn một số hạn chế như: phạm vi chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông
tin còn hẹp; cơ chế công khai thông tin chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi số;
việc bảo vệ dữ liệu cá nhân chưa đầy đủ; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin
trong một số trường hợp còn phức tạp; việc công khai thông tin ở một số cơ
quan,đơn vị còn hình thức, chưa kịp thời
Trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính
phủ số, xã hội số và nâng cao yêu cầu công khai, minh bạch trong hoạt động công
quyền, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 được ban hành nhằm hoàn thiện cơ chế
pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.
Dưới đây là một số nội dung mới cơ bản
của Luật Tiếp cận thông tin năm 2026:
Thứ nhất, mở rộng phạm vi chủ thể có trách nhiệm cung
cấp thông tin
Một trong những điểm đổi mới đáng chú ý của Luật Tiếp cận
thông tin năm 2026 là việc mở rộng và xác định rõ hơn phạm vi chủ thể có trách
nhiệm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân. Nếu như Luật Tiếp cận
thông tin năm 2016 chủ yếu tập trung vào trách nhiệm của cơ quan nhà nước, thì
Luật năm 2026 tiếp cận theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh, phù hợp với yêu
cầu đổi mới quản trị công và tăng cường trách nhiệm giải trình trong cung ứng
dịch vụ công.
Điều 1
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 xác định phạm vi điều chỉnh không chỉ bao gồm
cơ quan nhà nước mà còn bao gồm đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ sự
nghiệp công cơ bản, thiết yếu trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của
công dân. Đồng thời, khoản 1 Điều 10 quy định cơ quan, đơn vị có trách nhiệm
cung cấp thông tin do mình tạo ra hoặc nắm giữ theo quy định của pháp luật.
Việc bổ
sung trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập có ý nghĩa quan trọng trong bối
cảnh các chủ thể này ngày càng tham gia sâu vào quá trình cung ứng dịch vụ công
trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa và an sinh xã hội. Trên
thực tế, nhiều thông tin liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của
người dân không chỉ hình thành trong hoạt động quản lý nhà nước mà còn trong
quá trình cung ứng dịch vụ công.
Quy
định mới này góp phần khắc phục một số bất cập trong bảo đảm quyền tiếp cận
thông tin, đồng thời mở rộng phạm vi minh bạch đối với việc sử dụng ngân sách,
tài sản và nguồn lực công. Quy định này cho thấy có sự chuyển dịch từ tiếp cận
dựa trên địa vị pháp lý của chủ thể sang tiếp cận dựa trên chức năng công và
trách nhiệm phục vụ xã hội, phù hợp với yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện
đại, lấy người dân làm trung tâm phục vụ.
Thứ hai, tăng cường bảo đảm quyền tiếp cận thông tin đối với các
nhóm yếu thế trong xã hội
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 bổ sung
các quy định nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm yếu thế trong
thực hiện quyền tiếp cận thông tin.
Khoản 1 Điều 3 quy định: “…Người khuyết tật, người dân tộc
thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó
khăn được Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi khi thực hiện quyền tiếp cận
thông tin”. Khoản 1 Điều 11 tiếp tục quy định trách nhiệm của cơ quan, đơn vị
trong việc áp dụng biện pháp bảo đảm để các nhóm đối tượng này tiếp cận thông
tin thuận lợi, hiệu quả.
Điều
này phản ánh sự chuyển biến từ bảo đảm bình đẳng hình thức sang bảo đảm bình
đẳng thực chất trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Trên thực tế, điều
kiện tiếp cận thông tin giữa các nhóm dân cư không đồng đều: người khuyết tật
gặp khó khăn về phương thức tiếp cận; người dân tộc thiểu số có rào cản ngôn
ngữ; người dân vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo còn hạn chế về hạ tầng số
và dịch vụ công trực tuyến. Do vậy, quy định mới này tạo cơ sở pháp lý để triển
khai các biện pháp hỗ trợ phù hợp, góp phần bảo đảm quyền tiếp cận thông tin
được thực hiện thực chất, đồng thời hạn chế nguy cơ gia tăng khoảng cách số
trong quá trình chuyển đổi số quốc gia
Thứ ba, mở rộng phạm vi thông tin phải được công khai, tăng cường minh
bạch trong quản trị công
So với Luật Tiếp cận thông tin năm 2016,
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 mở rộng đáng kể phạm vi thông tin phải được
công khai, quy định cụ thể và toàn diện hơn các nhóm thông tin trong nhiều lĩnh
vực quản lý nhà nước.
Luật
Tiếp cận thông tin năm 2026 bổ sung yêu cầu công khai đối với các nhóm thông
tin có tác động xã hội lớn như: kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thu hồi đất;
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên
địa bàn; kết quả điều tra, đánh giá đất đai; chất lượng môi trường, ô nhiễm môi
trường; kế hoạch ứng phó sự cố môi trường; thông tin về sự cố môi trường; thông
tin về các nguồn thải vào môi trường nước mặt và các nguồn có nguy cơ gây ra sự
cố môi trường trên địa bàn tỉnh; báo cáo đánh giá tác động môi trường; giấy
phép môi trường; thông tin về chất lượng môi trường, nguồn thải, đánh giá tác
động môi trường; kết quả đánh giá chất lượng cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh; giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vi
phạm pháp luật về y tế; bảo đảm chất lượng dịch vụ công trực tuyến theo quy
định; kết quả đánh giá mức độ phổ cập và khả năng tiếp cận dịch vụ công trực
tuyến và kết quả đánh giá mức độ chuyển đổi số…
Với việc mở rộng phạm vi thông tin phải
được công khai, Luật năm 2026 đã góp phần cụ thể hóa yêu cầu minh bạch trong
quản trị công, tăng cường minh bạch trong các lĩnh vực trực tiếp liên quan đến
đời sống Nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho giám sát xã hội và phòng ngừa
tiêu cực trong thực tiễn.
Thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động công khai và cung
cấp thông tin
Luật
Tiếp cận thông tin năm 2026 xác lập rõ định hướng chuyển đổi số trong hoạt động
công khai và cung cấp thông tin
Khoản 3
Điều 3 xác định đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và tăng
cường cung cấp thông tin trên môi trường số là nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp
cận thông tin. Đây là bước chuyển quan trọng từ việc coi chuyển đổi số là giải
pháp kỹ thuật sang xác định chuyển đổi số là một yêu cầu trong bảo đảm và thực
hiện quyền tiếp cận thông tin
Luật bổ
sung các hình thức công khai thông tin tại Điều 18 như: cổng dữ liệu, các kênh
thông tin, trang cộng đồng chính thức của cơ quan, đơn vị. Đồng thời, quy định
bổ sung vào Điều 24 một số hình thức mới mà công dân được quyền yêu cầu, cung
cấp thông tin như: “cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ
liệu, cổng dịch vụ công quốc gia, ứng dụng di động hoặc các nền tảng số khác do
cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công bố…”. Người yêu cầu cung cấp thông tin
tại trụ sở cơ quan, đơn vị được sử dụng điện thoại di động và các phương tiện
kỹ thuật khác của cá nhân để sao, chụp, tải về văn bản, hồ sơ, tài liệu, trừ
trường hợp pháp luật có liên quan quy định khác.
Những
quy định mới này tạo điều kiện để người dân tiếp cận thông tin nhanh chóng,
thuận tiện, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Đây cũng là nền tảng
pháp lý quan trọng hướng tới việc hình thành hệ thống dữ liệu công khai phục vụ
Chính phủ số và xã hội số.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế xác định phạm vi thông tin được tiếp cận,
bị hạn chế tiếp cận và tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân
Luật
Tiếp cận thông tin năm 2026 tiếp tục hoàn thiện cơ chế xác định phạm vi thông
tin được tiếp cận, không được tiếp cận hoặc được tiếp cận có điều kiện, đồng
thời tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư trong môi trường số.
Điều 14 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 khẳng định: công
dân được tiếp cận thông tin của cơ quan, đơn vị, trừ thông tin không được tiếp
cận theo Điều 15 và thông tin tiếp cận có điều kiện theo Điều 16. Quy định này
vừa kế thừa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, vừa làm rõ hơn cơ sở pháp lý xác
định phạm vi và giới hạn tiếp cận thông tin của công dân.
Điều
15 bổ sung một số nhóm thông tin không được tiếp cận như: thông tin thuộc bí
mật công tác; thông tin về các cuộc họp nội bộ; tài liệu nội bộ phục vụ quá
trình tham mưu, xây dựng chính sách. Quy định này nhằm bảo đảm tính ổn định,
khách quan trong hoạt động nghiên cứu, tham mưu trước khi ban hành quyết định
chính thức.
Điều
16 tiếp tục hoàn thiện cơ chế tiếp cận có điều kiện đối với thông tin liên quan
đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và các thông tin khác
theo quy định của pháp luật. Luật đồng thời nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá
nhân, theo đó việc tiếp cận dữ liệu cá nhân phải tuân thủ quy định của pháp
luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Theo
đó, dữ liệu cá nhân thuộc nhóm thông tin không được tiếp cận hoặc chỉ được tiếp
cận trong trường hợp pháp luật cho phép. Việc tiếp cận thông tin liên quan đến
đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình phải có sự đồng ý của chủ
thể thông tin, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu cá
nhân ngày càng trở thành nguồn thông tin quan trọng nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ
bị xâm phạm. Các quy định nêu trên góp phần bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu
công khai, minh bạch thông tin với yêu cầu bảo vệ quyền riêng tư, đồng thời bảo
đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật về tiếp cận thông tin, an ninh mạng,
bảo vệ dữ liệu cá nhân và chuyển đổi số.
Thứ sáu, đơn giản hóa thủ tục và tăng cường cơ chế bảo vệ quyền tiếp
cận thông tin
Luật
tiếp tục sửa đổi theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho công dân.
Khoản 2 Điều 24 cho phép người yêu cầu cung cấp thông tin sử dụng điện thoại di
động và phương tiện kỹ thuật cá nhân để sao, chụp, tải về tài liệu theo quy
định. Quy định này tăng tính chủ động, giảm chi phí và thời gian thực hiện thủ
tục.
Khoản 3 Điều 26 quy định thời hạn cung cấp thông tin chậm
nhất 12 ngày; trường hợp cần gia hạn thì không quá 12 ngày và phải thông báo
bằng văn bản. Quy định này tăng cường cơ chế kiểm soát thời hạn giải quyết,
nâng cao trách nhiệm giải trình và hạn chế tình trạng kéo dài trong cung cấp
thông tin.
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 là bước hoàn thiện quan
trọng trong cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, đáp ứng yêu
cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, Chính phủ số và nền hành chính công khai,
minh bạch. Luật mở rộng phạm vi chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin, đa
dạng hóa hình thức công khai, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường bảo vệ dữ liệu
cá nhân và hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền tiếp cận thông tin.
Để Luật phát huy hiệu quả trong thực tiễn, cần tiếp tục đẩy mạnh số hóa
dữ liệu, tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan nhà nước, nâng
cao trách nhiệm công khai, cung cấp thông tin, qua đó bảo đảm thực hiện hiệu
quả quyền tiếp cận thông tin của công dân; nâng cao chất lượng quản trị quốc
gia và hiệu quả phục vụ người dân trong giai đoạn chuyển đổi số./.