TẠO SINH KẾ, GÓP PHẦN THỰC HIỆN GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TRÀ ĐỐC
Từ
ngày 01/7/2025, xã Trà Đốc mới được thành lập trên cơ sở sáp nhập xã Trà Đốc và
xã Trà Bui (thuộc huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam cũ) theo Nghị quyết
1659/NQ-TVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đây là một bước ngoặt quan trọng
tạo điều kiện thuận lợi để Trà Đốc phát huy tiềm năng, xây dựng kế hoạch phát
triển kinh tế – xã hội thống nhất và bền vững.
Tổng
diện tích tự nhiên là 23.361 ha (diện tích sản xuất: 19.484,01 ha, rừng tự
nhiên 3.876,99ha), dân số 2.538 hộ/10.537 khẩu (dân tộc thiểu số 2.221 hộ/10.198
khẩu chủ yếu Cadong, Mơ Nông). Toàn xã có 09 thôn, tỷ lệ hộ nghèo 1.113 hộ/6.045
khẩu (tỉ lệ 48,08%). Mặc dù đời sống Nhân dân từng bước được cải thiện, tuy
nhiên tỷ lệ hộ nghèo còn cao, đời sống phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông – lâm
nghiệp truyền thống, quy mô nhỏ lẻ, bấp bênh trước biến động thị trường và
thiên tai. Địa hình đồi núi dốc, khí hậu có mùa mưa kéo dài, nguy cơ sạt lở, lũ
quét cao; thị trường tiêu thụ còn hạn chế; trình độ dân trí và tay nghề lao động
chưa cao… là những rào cản lớn trong công tác giảm nghèo bền vững. Trong bối cảnh
đó, việc định hướng mô hình sinh kế mới, phù hợp điều kiện tự nhiên và tập quán
sản xuất là nhiệm vụ cấp thiết.
Trong những năm qua, công tác giảm
nghèo bền vững luôn được xã Trà Đốc đặc biệt quan tâm và xem là
nhiệm vụ chiến lược trong phát triển kinh tế – xã hội. Với đặc thù là
xã miền núi, đồng bào sinh sống tập trung, điều kiện tự nhiên còn nhiều hạn chế,
cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, nên đời sống của người dân vẫn còn nhiều khó khăn,
tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao so với mặt bằng chung của
thành phố.
Bước vào năm 2026 – năm đánh dấu nhiều định hướng phát triển
mới theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã – việc tạo sinh kế bền vững, nâng cao
thu nhập, mở rộng cơ hội việc làm, hỗ trợ chuyển đổi mô hình sản xuất… tiếp tục
được UBND xã xác định là nhiệm vụ trọng tâm, góp phần thực hiện thắng lợi mục
tiêu giảm nghèo bền vững và đảm bảo an sinh xã hội.
Đời sống người dân Trà Đốc phần lớn phụ thuộc vào nương rẫy
truyền thống, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện
khí hậu, thiên tai, thị trường tiêu thụ không ổn định. Việc chuyển đổi mô hình
sản xuất tuy đã được quan tâm nhưng chưa thật sự mạnh mẽ. Một số khó khăn nổi bật:
Nhiều hộ dân còn phụ thuộc vào sản xuất keo lai, chu kỳ dài và thị trường bấp
bênh dẫn đến thu nhập không ổn định. Tình trạng thiếu lao động có tay nghề vẫn diễn
ra phổ biến. Đất sản xuất phân tán, khó áp dụng các mô hình lớn. Một bộ phận người
dân chưa chủ động thay đổi phương thức sản xuất, còn
trông chờ vào hỗ trợ Nhà nước. Việc kết nối thị trường, tiêu thụ sản phẩm nông
– lâm nghiệp còn hạn chế. Những
khó khăn này đòi hỏi xã phải đề ra những hướng đi mới, phù hợp với
điều kiện tự nhiên và tập quán của người
dân, đồng thời tạo ra nguồn sinh kế lâu dài, bền vững.
Thực
trạng sinh kế và những khó khăn hiện nay. Người dân chủ yếu sản xuất keo lai,
lúa rẫy, hoa màu ngắn ngày; chăn nuôi trâu, bò, dê, heo; khai thác lâm sản tự
nhiên và nuôi cá lồng trên hồ Sông Tranh 2. Tuy nhiên, nhiều mô hình còn tự
phát, thiếu quy hoạch, sản lượng thấp, chưa có liên kết bao tiêu. Chu kỳ thu hoạch
dài, giá cả bấp bênh, dễ thiệt hại do thiên tai, hiệu quả kinh tế không cao. Thanh
niên chưa được đào tạo nghề bài bản, khả năng chuyển đổi nghề và ứng dụng khoa
học kỹ thuật còn hạn chế. Sản phẩm chủ yếu bán tươi, phụ thuộc thương lái, chi
phí vận chuyển cao. Thiên tai ảnh hưởng liên tục, mưa lũ từ tháng 9 - 12 hằng
năm gây thiệt hại mùa màng và tài sản.
Trong nhiều năm qua, cây keo lai được
xem là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ dân. Tuy nhiên, hiện nay giá keo
không ổn định, chu kỳ thu hoạch kéo dài, hiệu quả
kinh tế không cao. Nhằm tạo hướng đi mới,
UBND xã định hướng mô hình sinh kế giảm nghèo bền vững, vận động Nhân dân mạnh
dạn chuyển đổi một phần diện
tích keo sang cây cau và cây quế – những loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với đặc điểm đất đai
miền núi.
Đối với cây cau: Phù hợp với
khí hậu Trà Đốc, dễ chăm sóc, ít sâu bệnh; Cho thu hoạch quả liên tục trong nhiều
năm, hiệu quả kinh tế ổn định; Có thể trồng xen dưới tán rừng, dưới vườn
cây ăn quả hoặc đất vườn hộ; Sau năm thứ 3–4 bắt đầu cho thu hoạch,
mang lại nguồn thu thường xuyên, giúp người dân có vốn xoay vòng.
Đối với cây quế: Quế là cây trồng dài hạn, sinh trưởng tốt trên đất đồi
núi; Cho giá trị sử dụng cao: vỏ, lá và
tinh dầu; Thị trường tiêu thụ rộng, được các doanh nghiệp thu mua ổn định; Khi
trồng theo mô hình xen canh hoặc trồng phân tán sẽ tạo vành đai phủ xanh, chống
xói mòn.
UBND
xã sẽ phối hợp với ngành nông nghiệp tổ chức các lớp
tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc cau, quế; hỗ trợ cây giống
chất lượng; đồng thời hướng đến hình thành các vùng trồng cau – quế tập trung
để tạo sản phẩm hàng hóa và tăng tính cạnh tranh.
Song song với việc chuyển đổi cây
trồng, xã tiếp tục phát triển các mô hình: Trồng dược liệu dưới tán rừng như đảng
sâm, ba kích, sa nhân tím…Nuôi ong lấy mật, kết hợp bảo vệ rừng và tạo sinh kế.
Trồng rừng gỗ lớn, rừng nguyên liệu bền vững theo tiêu chuẩn FSC.
Khuyến khích người dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, gắn quyền lợi với trách
nhiệm bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Mô hình kinh tế rừng kết hợp được xem là
hướng đi phù hợp, vừa tạo sinh kế ổn định, vừa nâng cao ý thức bảo vệ rừng.
Xã Trà Đốc có nhiều tiềm năng để phát triển sản phẩm đặc
trưng: Sản phẩm thổ cẩm Ca Dong, các loại măng khô, sản vật rừng theo mùa,
rượu truyền thống, sản phẩm OCOP tiềm
năng. Xã sẽ hướng đến hỗ trợ các nhóm hộ, tổ hợp tác xây dựng sản phẩm, hướng dẫn
tiêu chuẩn an toàn, bao bì, tem nhãn; hỗ trợ giới thiệu tiêu thụ trên các
nền tảng số và các chương trình hội chợ.
UBND xã phối hợp mở các lớp: Kỹ thuật trồng cau, trồng quế
và trồng dược liệu; Chăn nuôi heo bản địa, gà thả vườn; Nghề mộc dân dụng, cơ
khí nhỏ; Dệt thổ cẩm truyền thống cho phụ nữ. Các lớp học
sẽ gắn với nhu cầu thực tế của từng thôn, từng nhóm dân cư, giúp người dân áp dụng
ngay sau khi học. Kết nối lao động với các doanh nghiệp tại Hòa Vang, Liên Chiểu. Hỗ trợ người dân vay vốn ưu đãi để mở rộng sản xuất.
Đẩy mạnh các hoạt động khởi nghiệp nông nghiệp quy mô nhỏ, tạo việc làm tại chỗ.
Bên cạnh hỗ trợ sản xuất, xã tiếp tục thực hiện đầy đủ các
chính sách an sinh: Hỗ trợ nhà ở, sửa chữa nhà cho hộ
nghèo, cận nghèo. Cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu số; Hỗ trợ học phí, đồ dùng
học tập cho học sinh; Tổ chức các hoạt động thăm hỏi, hỗ trợ đột xuất, chăm lo Tết cho hộ khó khăn. Các tổ chức đoàn thể sẽ tiếp tục thực
hiện các mô hình giúp nhau thoát nghèo: “Hũ gạo tình thương”, “Tổ phụ nữ tiết kiệm”, “Hỗ trợ sinh kế cho thanh niên”… tạo động lực giúp hộ
nghèo tự vươn lên.
Trong công tác giảm nghèo,
tinh thần tự lực và sự chung tay của cộng đồng đóng vai trò rất
quan trọng. UBND xã tiếp tục: Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho
người dân; Nhân rộng mô hình hộ thoát nghèo bền vững; Nâng cao trách nhiệm của
thôn, các tổ công tác trong việc rà soát, giám sát; Phát huy vai trò của
các già làng, người uy tín trong đồng bào Ca Dong.
Giải pháp trọng tâm trong thời gian tới.
Xây dựng Đề án sinh kế 2026–2030; hỗ trợ vốn; đầu tư hạ tầng;
xây dựng chuỗi liên kết; đào tạo nghề; phòng chống thiên tai; thúc đẩy chuyển đổi
số.
Năm 2026 mở ra nhiều cơ hội mới cho phát triển
kinh tế – xã hội của xã
Trà Đốc. Với quyết tâm đổi mới tư duy sản xuất, đặc biệt trong việc chuyển đổi cây trồng theo hướng trồng cau và quế, kết hợp duy trì các mô hình dược liệu, kinh tế rừng, đào tạo nghề và
đảm bảo an sinh xã hội, xã hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững, từng bước nâng cao đời sống người
dân. UBND xã Trà Đốc tin tưởng rằng, với sự vào cuộc của
cả hệ thống chính trị và sự nỗ lực của Nhân dân. Chung tay thực hiện sinh kế mới
– xây dựng cuộc sống ấm no, công tác giảm nghèo sẽ đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần xây dựng Trà Đốc ngày
càng phát triển, văn minh, ổn định và bền vững.
Đ/c Nguyễn Văn Xuyến - Phó Chủ tịch UBND xã